Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > QUAN TRỌNG >

    KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, PHÂN TÍCH NỘI DUNG CÁC PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN

     

    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM

    VIỆN SƯ PHẠM KỸ THUẬT

    -----š«›-----

     

     

     

     

     

            BÀI BÁO CÁO:

     

    KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, PHÂN TÍCH NỘI DUNG CÁC PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN

     

     

     

     

    GVGD               : PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn

    Tên môn học    : Phương pháp Nghiên cứu khoa học giáo dục

    Tên lớp              : Giáo Dục Học

    Khóa                  : GDH15B

    Niên khóa         : 2015-2017       

     

    Tp. Hồ Chí Minh, tháng 11/2015
    BÁO CÁO ĐỀ TÀI

     

     

    Chuyên đề 1:

     

    KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, PHÂN TÍCH NỘI DUNG CÁC PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN

     

     

     

     

    Nhóm 4

    1.        Đinh Thị Thùy Dung
    2. Trịnh Thị Hiền
    3. Lê Thị Diễm Hương
    4. Hoàng Đình Thái

    MỤC LỤC

    Trang

     

    I. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC. 04

    1. Khái niệm và đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học                          04

    2. Phân loại phương pháp nghiên cứu khoa học                                                         04

    II. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THU THẬP THÔNG TIN................ 05

    1. Phương pháp quan sát khoa học.............................................................................. 05

    2. Điều tra giáo dục........................................................................................................ 08

    3. Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm giáo dục.................................. 11           

    4. Phương pháp chuyên gia........................................................................................... 14           

    5. Nghiên cứu sản phẩm hoạt động của sư phạm....................................................... 15

    6. Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết.................................................................. 16            .............................................................................................................................................

    III. TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................... 18           

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    I. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    1. Khái niệm và đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học

    1.1.       Khái niệm

    -         Theo nghĩa chung thì phương pháp là con đường đạt mục tiêu, là cách thức giải quyết một công việc cụ thể hay nói một cách dễ hiểu nhất phương pháp là cách thức con người sử dụng để đạt mục đích.

    -         PPNCKH là:

    • Cách thức – con đường thu thập, xử lý thông tin (sự kiện) nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu.
    • Hoạt động có đối tượng, trong đó chủ thể nghiên cứu dùng các cách thức nhằm khám phá, tác động đến đối tượng phục vụ mục đích nghiên cứu của bản thân.

    ð Tóm lại PPNCKH là tổ hợp các thao tác, biện pháp thực tiễn hoặc lý thuyết mà nhà khoa học sử dụng để nhận thức, khám phá đối tượng, tạo ra hệ thống những kiến thức về đối tượng.

    1.2.        Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học

    -         PPNCKH vừa mang tính chủ quan, vừa mang tính khách quan

    -         PPNC có tính mục đích, gắn với nội dung và chịu sự chi phối của nội dung và mục đích

    -         PP có tính lôgic và tính kế hoạch: Đó là một hoạt động được tổ chức một cách hợp lý, khoa học.

    -         PP luôn cần có sự hỗ trợ của các công cụ, phương tiện kỹ thuật.

    2. Phân loại phương pháp nghiên cứu khoa học

    Phương pháp nghiên cứu khoa học là một hệ thống phong phú. Chính vì sự phong phú ấy của phương pháp và cũng để tiện sử dụng, người ta tìm cách để phân loại chúng. Trong thực tế có nhiều cách phân loại phương pháp:

    2.1. Dựa trên trình độ nghiên cứu và tính chất của đối tượng

    • Nhóm phương pháp mô tả
    • Nhóm phương pháp phát hiện
    • Nhóm phương pháp giải thích

    2.2. Dựa theo lý thuyết thông tin và quy trình nghiên cứu một đề tài KH

    • nhóm phương pháp thu thập thông tin
    • nhóm phương pháp xử lý thông tin
    • nhóm phương pháp trình bày  thông tin.

    2.3. Dựa theo trình  độ nhận thức khoa học chung của loài người

    • phương pháp nghiên cứu thực tiễn
    • phương pháp nghiên cứu lý thuyết
    • phương pháp toán học.

    2.4. Dựa vào phạm vi sử dụng, người ta chia PP thành

    • Những PP chung nhất dùng chung cho tất cả các lĩnh vực khoa học;
    • Những PP chung dùng cho một số ngành;
    • Những PP đặc thù chỉ dùng cho một lĩnh vực cụ thể.

     

    II. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THU THẬP THÔNG TIN

    1. Phương pháp quan sát khoa học

    1.1.       Khái niệm

    -         Quan sát khoa học là phương pháp thu nhận thông tin về đối tượng nghiên cứu bằng tri giác trực tiếp đối tượng và các nhân tố khác có liên quan đến đối tượng.

    -         Quan sát với tư cách là PPNCKH là một hoạt động có mục đích, có kế hoạch  được tiến hành một cách có hệ thống. Đây là một trong những hình thức chủ yếu của nhận thức kinh nghiệm, để tạo ra thông tin ban đầu, nhờ nó mà sau này xây dựng lý thuyết và kiểm tra lý thuyết bằng thực nghiệm và như vậy nó là con đường để gắn nghiên cứu lý thuyết với nghiên cứu hoạt động thực tiễn.

    -         Quan sát khoa học được tiến hành trong thời gian dài hay ngắn, không gian rộng hay hẹp, mẫu quan sát nhiều hay ít.

    -         Quan sát sư phạm là phương pháp để thu thập thông tin về quá trình giáo dục và dạy học trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động sư phạm, cho ta những tài liệu sống và thực tiễn giáo dục để có thể khái quát rút ra những quy luật nhằm chỉ đạo quá trình tổ chức giáo dục thế hệ trẻ tốt hơn.

    1.2.       Quan sát trong NCKH thực hiện ba chức năng

    -         Chức năng thu thập thông tin thực tiễn, đây là chức năng quan trọng nhất.

    -         Chức năng kiểm chứng các lý thuyết, các giả thuyết đã có.

    -         Chức năng so sánh đối chiếu các kết quả trong nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn. (Đối chiếu lý thuyết với thực tế)

    1.3. Các công việc quan sát khoa học

    1.3.1. Xác định đối tượng quan sát, mục đích quan sát

    Việc xác định mục đích rõ ràng sẽ làm cho người lập phiếu quan sát cũng như người  đi quan sát tập trung hơn vào các nội dung quan sát. Nghĩa là cần trả lời câu hỏi: Quan sát để làm gì ?

    Ví dụ: Cùng một công việc là quan sát sự học tập của một lớp học sinh. Nếu với mục đích là quan sát sự chú ý của học sinh trong lớp học thì các quan sát sẽ tập trung chủ yếu vào học sinh. Nhưng, nếu với mục đích là quan sát phương pháp dạy của thầy sao cho thu hút sự chú ý của học sinh thì các dữ liệu quan sát chủ yếu là ở người thầy, các dữ liệu của học sinh (ánh mắt, nét mặt...) là để chứng minh cho việc ghi chép hoạt động của thầy nhằm thu hút sự chú ý của học sinh.

    1.3.2. Xác định nội dung quan sát và phương pháp quan sát

    Câu trả lời tiếp câu hỏi: quan sát cái gì, quan sát như thế nào và bằng cái gì. Nếu mục đích quan sát rõ ràng thì nội dung quan sát sẽ dễ dàng được ấn định. Nội dung quan sát thể hiện qua việc lựa chọn đối tượng quan sát (mẫu quan sát), số lượng mẫu, định thời điểm quan sát và độ dài thời gian quan sát. Căn cứ vào qui mô của đề tài và độ phức tạp của mẫu mà quyết định phương pháp, phương tiện quan sát.

    1.3.3. Lập phiếu quan sát và kế hoạch quan sát

    Ðể việc quan sát được chủ động và thống nhất giữa các lần quan sát hoặc giữa những cộng tác viên quan sát, chủ đề tài phải thiết kế bảng yêu cầu các nội dung cụ thể khi đi quan sát. Bảng này gọi là phiếu quan sát. Phiếu quan sát được cấu trúc thành 3 phần:

    - Phần thủ tục: Ðối tượng, địa chỉ, ngày giờ quan sát, người quan sát.

    - Phần nội dung: Ðây là phần quan trọng nhất của phương pháp, nó quyết định sự thành công của đề tài nghiên cứu. Có thể gọi đây là phần yêu cầu ghi chép, thu hình cụ thể khi đi làm việc. Vì vậy các yêu cầu phải thật cụ thể, sao cho người đi quan sát có thể đo, đếm, ghi được bằng số bằng chữ có hoặc không (không mang tính chất nhận định cá nhân).

    Ví dụ: + Bao nhiêu học sinh phát biểu ý kiến ?

    + Thầy có thực hiện bước mở bài không ? v.v...

    Tránh những câu hỏi không đếm được, ví dụ:

    + Học sinh có chú ý nghe giảng không ?

    + Thầy giảng có nhiệt tình không ?

    - Phần bổ sung bằng câu hỏi phỏng vấn: Phần này do chủ đề tài quyết định  để có thể xác minh, làm rõ hơn một số thông tin có thể chưa được rõ khi quan sát. Ví dụ: Khi quan sát một giờ giảng, để biết được học sinh có ghi chép đầy đủ ý của thầy trên bảng hay không, có thể hỏi thêm: Em có nhìn rõ chữ trên bảng không? Em nghe thầy giảng có rõ không (về lời nói, ngữ điệu).

    1.3.4. Tiến hành quan sát

    Trước khi tiến hành quan sát, chủ nhiệm đề tài cần tập huấn cho các thành viên về  cách quan sát và ghi chép. Ghi chép kết quả quan sát, có thể bằng các cách:

    • Ghi theo phiếu in sẵn
    • Ghi biên bản
    • Ghi nhật kí, theo thời gian, không gian, điều kiện và diễn biến của sự kiện.
    • Ghi âm, chụp ảnh, quay phim các sự kiện.

    Sau khi quan sát xong cần phải kiểm tra lại kết quả quan sát bằng nhiều cách:

    • Trò chuyện với những người tham gia tình huống.
    • Sử dụng các tài liệu khác liên quan đến diễn biến để đối chiếu.
    • Quan sát lặp lại lần thứ hai nhiều lần nếu thấy cần thiết.
    • Sử dụng người có trình độ cao hơn quan sát lại để kiểm nghiệm lại kết quả.
    • Quan sát là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng giáo dục. Quan sát có  thể tiến hành trong điều kiện tự nhiên với hoàn cảnh đang có thường ngày. Quan sát có thể thực hiện bằng cách tạo ra các tình huống khác thường, trong các hoạt động được tổ chức có định hướng, qua đó đối tượng tự bộc lộ bản chất rõ ràng hơn.

    1.3.5. Xử lí

    Tập hợp các phiếu quan sát, sắp xếp số liệu mã hóa, phân tích để đi đến một nhận định khoa học. (phần này được trình bày rõ ở phần phương pháp xữ lý thông tin)

    Tóm lại phương pháp quan sát đối tượng giáo dục giúp ta có được những thông tin thực tiễn có giá trị. Quan sát cần được chuẩn bị cẩn thận, các tài liệu cần được xử lí khách quan.

    2. Điều tra giáo dục

    2.1. Khái niệm

    -  Điều tra giáo dục là phương pháp tác động trực tiếp của người nghiên cứu vào đối tượng nghiên cứu thông qua câu hỏi để có những thông tin cần thiết cho công việc của mình.

    -  Điều tra giáo dục là phương pháp nghiên cứu xã hội, khảo sát một số lượng lớn các đối tượng nghiên cứu ở một hay nhiều khu vực, vào một hay nhiều thời điểm, nhằm thu thập rộng rãi các số liệu, hiện tượng, sự suy nghĩ, quan điểm v.v.. để từ đó phát hiện các vấn đề cần giải quyết, xác định tính phổ biến, nguyên nhân,…chuẩn bị cho các bước nghiên cứu tiếp theo.

    2.2. Các loại điều tra trong nghiên cứu giáo dục

    Điều tra trong nghiên cứu khoa học giáo dục xét về mục đích gồm có hai loại là

    điều tra cơ bản và trưng cầu ý kiến.

    -  Điều tra cơ bản trong giáo dục, như điều tra trình độ học vấn của dân cư trong toàn quốc hay trong một số địa phương, điều tra nhu cầu phát triển giáo dục, điều tra chỉ số thông minh của học sinh.

    -  Trưng cầu ý kiến là phương pháp tìm hiểu nhận thức, tâm trạng, nguyện vọng của thầy giáo, học sinh, phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội khác.

    Trưng cầu ý kiến là phương pháp thu thập thông tin bằng ngôn ngữ dựa trên tác động về mặt tâm lí xã hội trực tiếp (phỏng vấn) hoặc gián tiếp thông qua phiếu hỏi  (bút vấn) giữa người nghiên cứu khoa học và người được hỏi ý kiến.

    - Bút vấn là hình thức trưng cầu ý kiến nhanh nhất giúp ta thu được những ý kiến cần thiết của số đông và tiết kiệm được chi phí.

    - Phỏng vấn là phương pháp điều tra hỏi và trả lời trực tiếp. Theo cách này, người nghiên cứu phải có sẵn chủ đề phỏng vấn để khi làm việc không hỏi lan man. Người phỏng vấn phải là nhà nghiên cứu lão luyện để có thể ứng phó, tự điều chỉnh hướng trao đổi và đặc biệt là có thể có ngay những câu hỏi sắc bén, khéo léo và tế nhị. Phương cách này có thể thực hiện cả bằng điện thoại.

    Bút vấn và phỏng vấn là hai phương pháp trưng cầu ý kiến, nó luôn luôn bổ sung, hỗ trợ cho nhau, để cho ta những thông tin xác thực có giá trị. Cả hai phương pháp đòi hỏi phải chuẩn bị chu đáo, mục đích, công cụ và kĩ thuật nghiên cứu. Điều đó phụ thuộc vào năng lực của người nghiên cứu khoa học giáo dục.

    2.3. Kỹ thuật đặt câu hỏi

    2.3.1. Loại câu hỏi

    Câu hỏi có hai loại: đóng và mở.

    -            Câu hỏi đóng là loại câu hỏi mà người trả lời chọn một trong các phương án có sẵn để đánh dấu.

     

     

    -        Câu hỏi mở là loại câu hỏi mà người trả lời có thể trả lời tự do để giải trình một vấn đề gì đó. Mục đích của câu hỏi này là bổ sung cho các câu hỏi đóng hoặc  nhà nghiên cứu cần hiểu sâu hơn về tâm tư, tình cảm, thái độ của người trả lời đối với vấn đề đang nghiên cứu.

    Ví dụ: Sau khi dùng các câu hỏi đóng về vấn đề học tập của một lớp học mà giáo viên chủ nhiệm là người trả lời, có thể hỏi thêm một hoặc vài câu hỏi mở:

    + Bạn cho biết thêm về tính phức tạp của lớp.

    + Truyền thống của lớp này (về học tập) từ năm học trước đến bây giờ.

    + Các giáo viên chuyên môn đánh giá về lớp này thế nào?

    2.3.2. Những chú ý về việc đặt câu hỏi

    -        Câu hỏi phải đơn giản, thích hợp với mục đích nghiên cứu, dễ trả lời. Tránh việc

    đặt câu hỏi dài, không cần thiết.

    Ví dụ: + Bạn tốt nghiệp đại học sư phạm năm nào ? (tốt)

    + Trường này có nhiều giáo viên lâu năm, có kinh nghiệm, bạn có cho rằng, bạn thuộc loại giáo viên đó chăng ? (dài dòng không cần thiết).

    -        Không dùng những từ ngữ, khái niệm khó hiểu, vượt quá khả năng người trả lời, từ ngữ nước ngoài...

    Ví dụ:  + Bạn lấy bằng Diplom (hoặc Master) khi nào?

    + Hình như thí nghiệm của bạn là thí nghiệm mô phỏng?

    -        Câu hỏi phải đơn trị (chỉ có một ý trả lời đúng).

    Ví dụ:  + Bạn có định nâng cao trình độ lấy bằng Thạc sĩ không? (Nâng cao trình

    độ không trùng nghĩa với bằng Thạc sĩ. Ðây là câu đa trị)

    -        Khi không cần thiết, tránh những câu hỏi đi vào đời tư của người trả lời làm người ta khó nói.

    Ví dụ: + Tránh hỏi trực tiếp đối tượng là phụ nữ về tuổi tác, đời tư.

    + Tránh hỏi trực tiếp (khi không cần thiết) về trình độ, thái độ bản thân, khả năng... như: Anh dạy có giỏi không? Anh có yêu nghề không ?...

    -        Trong những trường hợp cần biết những vấn đề ấy cần chuẩn bị một số câu hỏi cầu vòng làm cơ sở để phán đoán (Làm bài tập dưới đây).

    Tránh hỏi những câu mà ta biết chắc câu trả lời.

    Ví dụ:  + Thầy/cô đi dạy có soạn giáo án không? (Chắc chắn là có)

    2.3.3. Cấu trúc bảng câu hỏi

    -       Phần đầu: Gồm những vấn đề chung với nội dung tìm hiểu đối tượng (tên,  nơi ở, năm sinh v.v....). Ngoài ra, phần mở đầu cũng nhằm mục đích khởi động cho cuộc giao tiếp, định hướng cho giao tiếp.

    -       Phần chính: Những câu hỏi phục vụ mục đích điều tra.

    -       Phần kiểm chứng: Phần này có thể bao gồm cả hai loại câu hỏi nhằm mục đích làm rõ thêm cho phần chính hoặc đôi khi kiểm chứng lại vấn đề nào đó để xác định đối tượng trả lời thật hay không thật.

     

    3. Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm giáo dục

    3.1. Khái niệm

    Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm là phương pháp nghiên cứu xem xét lại những thành quả của hoạt đông thực tiễn trong quá khứ để rút ra những kết luận bổ ích cho thực tiễn và cho khoa học. Tổng kết kinh nghiệm thường thường hướng vào nghiên cứu diễn biến và nguyên nhân của các sự kiện và nghiên cứu giải pháp thực  tiễn đã áp dụng để tìm ra các giải pháp hoàn hảo nhất.

    3.2. Mục đích của tổng kết kinh nghiệm giáo dục

    -        Tìm hiểu bản chất, nguồn gốc, nguyên nhân và cách giải quyết những tình huống giáo dục đã xảy ra trong một lớp học, một trường hay một địa phương.

    -        Nghiên cứu con đường thực hiện có hiệu quả quá trình giáo dục và dạy học ở các cơ sở.

    -        Tổng kết các sáng kiến của các nhà sư phạm tiên tiến.

    -        Tổng kết những nguyên nhân, để loại trừ những sai lầm, thất bại trong hoạt động giáo dục, loại trừ những khuyết điểm có thể lặp lại.

    -        Tổng kết kinh nghiệm giáo dục mang tính quần chúng rộng rãi. Tuy nhiên cần  chú ý tổng kết các kinh nghiệm giáo dục tiên tiến để từ đó kiểm tra lí thuyết và cũng từ đó mà tổng kết để tạo nên những lí thuyết mới có giá trị.

    Có hai loại kinh nghiệm giáo dục tiên tiến:

    Một là: nghệ thuật sư phạm, trong việc thực hiện tốt quá trình giáo dục và dạy học trên cơ sở ứng dụng thành tựu của khoa học giáo dục.

    Hai là: những sáng kiến giáo dục và dạy học, nghĩa là các nhà sư phạm tìm

    được những con đường mới, cách thức hay nội dung mới có giá trị thực tiễn cao.

    3.3. Các bước tiến hành tổng kết kinh nghiệm

    -         Chọn điển hình tốt hoặc xấu của thực tiễn giáo dục.

    -         Mô tả sự kiện đó trên cơ sở quan sát, phỏng vấn, toạ đàm, nghiên cứu tài liệu, sản phẩm của sự kiện để tìm tài liệu về sự kiện.

    -         Khôi phục lại sự kiện đã xảy ra bằng mô hình lý thuyết.

    -         Phân tích từng mặt của sự kiện, phân tích nguyên nhân điều kiện, hoàn cảnh  xảy ra và kết quả sự kiện đã xảy ra như thế nào? Phân tích bản chất của từng vấn đề, từng sự kiện xảy ra.

    -         Hệ thống hóa các sự kiện đó, phân loại những sản phẩm, những nguyên nhân, hệ quả, nguồn gốc, sự diễn biến, qui luật diễn biến.

    -         Sử dụng trí tuệ tập thể của nơi xảy ra sự kiện để phân tích trao đổi diễn biến, hệ quả của sự kiện, những tài liệu của nhân chứng.

    -         Viết thành văn bản tổng kết trên cơ sở đối chiếu với những lí luận giáo dục tiên tiến. Đánh giá những kết quả, kinh nghiệm, bằng đối chiếu với thực tiễn khác, làm sao để tài liệu tổng kết có giá trị về lí luận, có ý nghĩa thực tiễn. Kinh nghiệm sư phạm phải nêu rõ được bản chất, nguồn gốc sự kiện, cơ chế hình thành, quy luật phát triển, nguyên nhân và hậu quả, tìm được các điển hình cho cùng một dạng, như vậy kinh nghiệm có giá trị hơn.

    Kinh nghiệm sư phạm cần được phổ biến rộng rãi. Con đường để phổ biến thường là:

    -           Thông qua các hội thảo khoa học, hội nghị sư phạm, tổng kết của các đơn vị tiên tiến trong ngành giáo dục.

    -           Phổ biến của các nhà khoa học, các chuyên gia về lĩnh vực giáo dục cho các trường, các cơ sở giáo dục khác.

    -           Thông qua các ấn phẩm, các tài liệu về phương pháp giáo dục, trên tạp chí, báo trung ương, địa phương, báo ngành,…

    Các ví dụ về phương pháp tổng kết kinh nghiệm

    Ví dụ 1: Bài nghiên cứu về một giáo viên dạy giỏi.

    (1)                   Xác định đối tượng nghiên cứu:

    -                            Qua sự giới thiệu của Sở Giáo dục - Ðào tạo.

    -                            Qua sự giới thiệu của Ban Giám Hiệu.

    -                            Tìm hiểu sơ bộ qua một số giáo viên và học sinh.

    (2)                   Sưu tầm tài liệu:

    -                            Lấy tài liệu qua tọa đàm với Ban Giám Hiệu, Tổ chuyên môn.

    -                            Các bản báo cáo thi đua của cá nhân.

    -                            Dự giờ, trắc nghiệm ở học sinh.

    -                            Xem các thiết kế chế tạo đồ dùng dạy học và sản phẩm.

    (3)                   Mô hình một giáo viên dạy giỏi:

    -                            Khả năng giảng dạy.

    -                            Kết quả giảng dạy.

    -                            Nâng cao trình độ.

    -                            Số lượng sáng kiến.

    -                            Chất lượng sáng kiến.

    4)                 Phân tích và rút ra kết luận

    5)                 Viết bài

    Ví dụ 2: Bài nghiên cứu về giáo viên làm công tác giáo dục tốt (Các bước 1, 2, 4 và 5 làm như ví dụ 3)

    + Mô hình giáo viên giáo dục giỏi:

    *                                         Tuổi nghề.

    *                                         Phẩm chất, đạo đức.

    *                                         Tinh thần công tác.

    *                                         Số năm làm công tác chủ nhiệm, số lớp đã chủ nhiệm và hiệu quả.

    *                                         Nâng cao trình độ.

    *                                         Số học sinh cá biệt đã giáo dục thành công.

     

    4. Phương pháp chuyên gia

    4.1. Khái niệm

    Phương pháp chuyên gia là phương pháp sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia có trình độ cao của một chuyên ngành để xem xét, nhận định bản chất một sự kiện khoa học hay thực tiễn phức tạp, để tìm ra giải pháp tối ưu cho các sự kiện đó hay đánh giá một sản phẩm khoa học.

    Trong giáo dục, đó là phương pháp thu thập thông tin khoa học, nhận định, đánh giá một sản phẩm khoa học giáo dục, bằng cách sử dụng trí tuệ một đội ngũ chuyên  gia giáo dục có trình độ cao, ý kiến của từng người sẽ bổ sung lẫn nhau, kiểm tra lẫn nhau cho ta một ý kiến đa số, khách quan về một vấn đề giáo dục.

    4.2. Yêu cầu khi sử dụng phương pháp

    Đây là phương pháp tiết kiệm nhất, nhưng sử dụng phương pháp này cần tính đến các yêu cầu sau đây:

    -     Chọn đúng chuyên gia, có năng lực chuyên môn theo vấn đề ta đang nghiên cứu. Những chuyên gia này phải có phẩm chất trung thực khoa học.

    -    Xây dựng được hệ thống các chuẩn đánh giá cho các tiêu chí cụ thể, dễ hiểu và tường minh, nếu có thể dùng điểm số để thay thế.

    -    Hướng dẫn kĩ thuật đánh giá, theo các thang điểm với các chuẩn khách quan, giảm tới mức tối thiểu những sai lầm có thể xảy ra.

    -    Hạn chế mức thấp nhất ảnh hưởng qua lại của các chuyên gia về chính kiến, quan điểm, cho nên tốt nhất là không phát biểu công khai hoặc là nếu công khai thì  người có uy tín nhất không phải là người phát biểu đầu tiên.

    Có thể tiến hành phương pháp này qua hình thức hội thảo, tranh luận, đánh giá, nghiệm thu công trình khoa học, lấy ý kiến. Người chủ trì phải ghi chép chu đáo các ý kiến của từng người, nếu thấy cần thiết phải ghi âm, quay phim hoặc ghi tốc kí. Tất cả các tư liệu thu được phải xử lí theo cùng một chuẩn, một hệ thống, các ý kiến trùng nhau hay gần nhau của đa số chuyên gia sẽ là kết luận chung về sự kiện ta cần nghiên cứu.

    Phương pháp chuyên gia được sử dụng ở giai đoạn cuối cùng, hoặc khi phương pháp nghiên cứu khác không cho kết quả.

    5. Nghiên cứu sản phẩm hoạt động của sư phạm

    Mỗi người hoạt động đều tạo ra sản phẩm, đó là thành quả độc đáo của cá nhân. Sản phẩm hoạt động để lại dấu ấn về năng lực và phẩm chất của họ. Do đó sản phẩm hoạt động là tài liệu khách quan để nghiên cứu chính chủ thể và quá trình hoạt động của chủ thể đó.

    Phân tích các hoạt động của học sinh, của thầy giáo, của một trường, của một tập thể cho ta biết những thông tin về các cá nhân và tập thể ấy, về hoạt động dạy và học, về phong trào chung, về nền nếp tổ chức, bầu không khí, môi trường giáo dục trong nhà trường

    Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động sư phạm yêu cầu đòi hỏi phải thu thập nhiều tài liệu khác nhau, phải phân loại và hệ thống hóa tài liệu theo một hệ thống, với những dấu hiệu cơ bản tìm ra những nét đặc thù, nét phổ biến của các cá nhân và tập thể trong hoạt động dạy và học, kết hợp với nghiên cứu đặc điểm lứa tuổi, vị trí xã hội,…của họ và cho ta thông tin chính xác về họ.

    6. Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

    Phương pháp nghiên cứu lí thuyết là tổ hợp các phương pháp nhận thức khoa học bằng con đường suy luận (các thao tác tư duy logic) dựa trên các tài liệu lí thuyết (văn bản, tài liệu) đã được thu thập từ các nguồn khác nhau. Những phương pháp sau đây là phương pháp chung nhất trong nhận thức khoa học giáo dục:

    6.1. Phân tích và tổng hợp lý thuyết

    6.1.1. Khái niệm

    Phân tích lí thuyết là thao tác phân tài liệu lý thuyết thành các đơn vị kiến thức, cho phép ta có thể tìm hiểu những dấu hiệu đặc thù, bản chất, cấu trúc bên trong của lí thuyết. Từ đó mà nắm vững bản chất của từng đơn vị kiến thức và toàn bộ vấn đề mà ta nghiên cứu. Trên cơ sở lý thuyết đã phân tích ta lại tổng hợp chúng để tạo ra một hệ thống, từ đó thấy được mối quan hệ biện chứng của chúng với nhau, vậy mà hiểu đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về lí thuyết đang nghiên cứu

    Phân tích và tổng hợp trở thành phương pháp nhận thức đặc biệt, cho phép ta xây dựng lại cấu trúc của vấn đề, tìm được các mặt, các quá trình khác nhau của hiện thực giáo dục. Con đường phân tích tổng hợp cho phép ta nhận thức được nội dung, xu hướng phát triển khách quan của lí thuyết và từ đây tiến hành suy diễn hình thành khái niệm, tạo ra hệ thống các phạm trù, lí thuyết khoa học mới.

    6.2.2. Các nguồn tài liệu để phân tích tổng hợp

    Nguồn tài liệu được phân tích từ nhiều gốc độ: chủng loại, tác giả, logic... Xét về chủng loại có các loại tài liệu sau đây:

    -         Tạp chí và báo cáo khoa học trong ngành có vai trò nhất trong quá trình tìm kiếm luận cứ cho nghiên cứu về chuyên môn.

    -         Tác phẩm khoa học là loại công trình hoàn thiện về lý thuyết có giá trị cao về các luận cứ lý thuyết, nhưng không mang tính thời sự.

    -         Tài liệu lưu trữ có thể bao gồm các văn kiện chính thức của nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, hồ sơ các loại...

    -         Thông tin đại chúng gồm báo chí, bản tin của các cơ quan thông tấn, báo điện tử, chương trình phát thanh, truyền hình...

    Các tài liệu nguồn trên đây có thể tồn tại dưới hai dạng:

    (1)  Tài liệu nguồn cấp 1: gồm tài liệu nguyên gốc của chính tác giả hoặc nhóm tác giả viết.

    (2)  Tài liệu nguồn cấp 2: gồm những tài liệu được tốm tắt, xữ lý, biên soạn, biên dịch, trích dẫn từ tài liệu gốc cấp 1.

    Trong nghiên cứu khoa học, người ta ưu tiên sử dụng tài liệu gốc cấp 1. Trong trường hợp. Chỉ trong trường hợp không thể tìm kiếm được tài liệu gốc cấp 1, thì mới sử dụng tài liệu gốc cấp 2.

    6.2. Phương pháp phân loại hệ thống hóa lý thuyết

    Trên cơ sở phân tích lí thuyết để tiến tới tổng hợp chúng người ta lại thực hiện quá trình phân loại kiến thức.

    Phân loại là thao tác logic, sắp xếp tài liệu khoa học theo chủ đề, theo từng mặt, từng đơn vị kiến thức có cùng một dấu hiệu bản chất, cùng một hướng phát triển. Phân loại cho ta thấy toàn cảnh hệ thống kiến thức khoa học đã nghiên cứu được. Phân loại làm cho khoa học từ phức tạp trong kết cấu nội dung trở nên dễ nhận biết, dễ sử dụng theo mục đích nghiên cứu. Phân loại còn giúp ta nhận thấy các quy luật tiến triển của khách thể, phát triển của kiến thức, từ qui luật được phát hiện có thể dự đoán những xu hướng tiếp theo.

    Hệ thống hóa là phương pháp sắp xếp tri thức khoa học thành hệ thống trên cơ sở một mô hình lý thuyết làm cho sự hiểu biết về đối tượng được đầy đủ và sâu sắc.

    Hệ thống hóa là phương pháp theo quan điểm hệ thống – cấu trúc trong nghiên cứu khoa học. Khi NCKHGD luôn phải phân loại các hiện tượng giáo dục, sắp xếp các kiến thức thành hệ thống có thứ bậc, có trật tự qua đó có được một chỉnh thể với một kết cấu chặt chẽ để từ đó xây dựng một lý thuyết hoàn chình.

    6.3. Mô hình hóa

    Mô hình hóa là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng khoa học và quá trình giáo dục bằng cách xây dựng giả định về chúng và dựa vào trên mô hình đó để nghiên cứu trở lại đối tượng

    Trong quá trình nghiên cứu, các hiện tượng và quá trình giáo dục được tái hiện thông qua hệ thống mô hình thay thế nguyên bản. Mô hình đối tượng là hệ thống các yếu tố vật chất và ý niệm (tư duy). Hệ thống mô hình giống đối tượng nghiên cứu trên cơ sở tái hiện những mối liên hệ cơ cấu – chức năng, nhân – quả của các yếu tố của  đối tượng.

    Đặc tính quan trọng là mô hình luôn tương ứng với nguyên bản. Mô hình thay thế đối tượng và bản thân nó lại trở thành đối tượng nghiên cứu, nó phục vụ cho nhận thức đối tượng và là phương tiện để thu nhận thông tin mới.

    Mô hình tái hiện đối tượng nghiên cứu giáo dục dưới dạng đơn giản hóa, tri thức thu được nhờ mô hình có thể áp dụng vào nguyên bản.

    Mô hình trong nghiên cứu lí thuyết có nhiệm vụ cấu trúc thành cái mới chưa có trong hiện thực, tức là mô hình cái chưa biết để nghiên cứu chúng, còn gọi là mô hình giả thuyết.

    Mô hình hóa cũng có thể là một thực nghiệm của tư duy, một cố gắng để tìm ra bản chất của các hiện tượng giáo dục.

    Tóm lại: nghiên cứu giáo dục được thực hiện bằng phương pháp mô hình, đó là con đường dùng cái cụ thể trực quan để nghiên cứu cái trừu tượng từ đó mà tìm ra các quy luật của giáo dục.

     

    1. II.           TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Nguyễn Văn Tuấn (2007). Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục. Đại học sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

    2. Vũ Cao Đàm (2006). Phương pháp luận nghiên cứu khoa học.

    3. Nguyễn Viết Vượng. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học.

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Hoàng Đình Thái @ 10:09 11/11/2015
    Số lượt xem: 17040
    Số lượt thích: 1 người (Nguyễn Đình Nhật)
     
    Gửi ý kiến